Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chỗ nào bán đất nghĩa trang phật giáo

Theo quan niệm của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng, khi chôn cất người quá cố phải chọn vùng đất linh thiêng, phong thủy tốt. Đó là lí do vì sao nhu cầu mua đất nghĩa trang Phật giáo ngày càng tăng mạnh, bởi đất nghĩa trang Phật giáo mang đến giấc ngủ bình yên cho người quá cố.

Đức Phật dạy con như thế nào?

Ngài dạy: “Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên nó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: Tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả”.

Ngày nay, hầu như người phật tử nào cũng biết rằng Thái tử Tất Đạt Đa, sau này là đức Phật, đã lìa bỏ tổ ấm của mình để đi tìm con đường giải thoát vào chính cái ngày La Hầu La - đứa con trai (duy nhất) của Ngài – chào đời. Nhiều người cảm thấy khó hiểu, thậm chí phẫn nộ, trước một hành động có vẻ “thiếu trách nhiệm” như thế.

Song, ít ai biết rằng sau khi đạt Chính Đẳng Chính Giác, đức Phật đã trở thành thầy dạy dỗ chính cho con trai của mình trong hầu hết quãng đời niên thiếu của con Ngài, kể từ khi La Hầu La lên bảy tuổi, và Ngài đã là một người cha rất mực mô phạm: La Hầu La đã đạt được giác ngộ viên mãn khi mới tròn 20 tuổi. Vậy, ta hãy tự hỏi, đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?

Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha - con giữa đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại những dấu hiệu thú vị đáng lưu ý về việc đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường trưởng thành. Mặc dù trước các kinh điển này đã có những mẩu chuyện nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những chi tiết này nằm trong ba bài pháp mà nếu ta gom cả lại với nhau, thì đó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: Lúc La Hầu La 7 tuổi, đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, đi đôi với tiến trình giác ngộ của đức Phật.


Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm thế nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn chúng nó học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm năng đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng có thể quay về với mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào tôi có thể trao truyền gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau.

Được biết La Hầu La bắt đầu được đức Phật dạy dỗ từ năm 7 tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pali để học lấy những phương pháp mà đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.

Tôi tìm thấy cách làm thế nào để lại một “gia tài tâm linh” qua những mẩu chuyện thật hay trong kinh điển về việc La Hầu La đã theo học với cha như thế nào? Sáu năm sau khi đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, đức Phật trở về kinh thành. La Hầu La, lúc ấy 7 tuổi, theo lời mẹ dạy, đã chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa Thái tử Tất Đạt Đa không bỏ kinh thành ra đi, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi vua. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, đức Phật quay sang nói với Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta), một đồ đệ thân tín của đức Phật: “Hãy thâu nhận nó.” Như vậy, thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình - con đường dẫn đến giải thoát.

Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã chuyển hoá sâu sắc cuộc đời tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.

Đạo đức

Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được đức Phật dạy về lòng chính trực (integrity) như thế nào. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã có lần nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, đức Phật đến tìm con. La Hầu La lấy ghế mời cha ngồi, rồi mang đến một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục thời ấy. Sau khi rửa chân xong, đức Phật hỏi:

“Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?”

“Dạ, con có thấy”
- La Hầu La thưa.

“Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối”.
Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.

Sau đó, đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: “Đời của một người tu cũng đáng vứt bỏ đi như vậy nếu như người đó cố tình nói dối”.

Xong, đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: “Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như vậy nếu như người đó cố tình nói dối”.

Và, để nhấn mạnh thêm nữa, đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: “Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.”

Sau đó Ngài dạy con: “Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa”.


Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy con mà không trừng phạt hay nổi giận với con. Sau bài thuyết giảng ngắn mà nghiêm khắc, rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe cha hơn.

Sau đó, đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình.

“Cái gương dùng để làm gì?” – Ngài hỏi.

“Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp.

Đức Phật lại dạy: “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm”.

Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa "đúng" và "sai", Đức Phật đã dạy cho con suy ngẫm về "lợi ích" và "có hại". Điều này đòi hỏi cả sự tự tri (self-awareness) lẫn lòng bi mẫn. Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm sẽ trở thành hoặc là nghịch duyên, hoặc là thuận duyên trên con đường ta đi.

Phương pháp giáo hoá của đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của lòng bi mẫn, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!” Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.

Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không? Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ soi xét lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: Nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.

Thiền định

Câu chuyện thứ hai nói về việc đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, nhằm phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và đức Phật đã đọc được tư tưởng đó. Ngài nói với con: "Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself)”.

Rồi Đức Phật giảng tiếp: "Ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ ý niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi". Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không thiết gì đến việc ăn uống suốt ngày hôm đó. Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ.

Tôi không thể tưởng tượng được bản thân tôi lúc 10 tuổi có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn lo nghĩ đến diện mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi” và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải đức Phật đã xen vào tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để chúng tự khám phá? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với một tâm lý thăng bằng?


Câu trả lời nằm ở những gì đức Phật dạy con Ngài ở đoạn sau đây: “Tối hôm đó, sau khi bị đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao để buông xả trong lúc thiền định.

Ngài dạy: “Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên nó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: Tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả”.

Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép quán niệm hơi thở, đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.

Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép quán niệm hơi thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia làm 3 phần: a) tịnh tâm và thân; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, đức Phật lưu lại một dấu ấn đậm nét về giáo lý của Ngài với La Hầu La bằng cách nhấn mạnh rằng qua sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, ta sẽ có khả năng nhận biết hơi thở cuối cùng của mình vào giây phút cận tử một cách hoàn toàn bình thản.

Khi đọc về cách thức đức Phật dạy con phép thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào “cái tôi” của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.

Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy bậc vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi an lạc giữa những thử thách của tuổi mới lớn.

Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt đời. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập quán niệm hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.

Tuệ giác

Trong bài pháp thứ ba và cuối cùng, đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh, 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn kinh, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên.

Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đến bờ giải thoát. Ngài đã làm một việc hết sức cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La thì những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng đắc được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là nấc thang cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.


Thuyết vô ngã của đức Phật có thể khó hiểu. Người ta rất dễ ngộ nhận nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc đức Phật dạy con về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa quang cảnh thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được ý niệm về ngã hơn.

Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc một cuốn sách về Phật pháp khi ngồi ở trong nhà rất khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa khung cảnh thiên nhiên. Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Ngài đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó, Ngài đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con cái của mình.

Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Và có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định và tuệ giác (như La Hầu La vậy).

Nguồn link: http://www.insightmeditationcenter.org/books-articles/articles/buddha-as-a-parent-vietnamese/

Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa: Ta yêu chó, thích chim nhưng sao lại sắm lồng nhốt chúng?

“Chúng ta vẫn nói rằng, có tình thương yêu đối với thiên nhiên, nhưng chúng ta đã đối xử với thiên nhiên không giống như những gì đã nói” – Đức Pháp vương nhận xét.

Ô nhiễm môi trường đến từ… ô nhiễm tâm hồn
Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, người đứng đầu Truyền thừa Phật giáo Kim cương thừa Drukpa cho rằng, các vấn đề môi trường hiện đang trở nên rất đáng quan ngại.
Theo Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa cũng nêu rõ, những căn nguyên ô nhiễm môi trường thực chất không phải nằm ở bên ngoài, mà thực sự nguyên nhân gốc rễ chính là sự ô nhiễm bên trong, "cụ thể là sự ô nhiễm trong tâm hồn mỗi chúng ta".
Bởi, có thể do sự hiểu biết không đúng đắn, hoặc do sự giáo dục chưa được chuẩn xác, cho nên tâm chúng ta bị ô nhiễm, dẫn đến sự ô nhiễm của môi trường.
Đức Phật Thích Ca đã từng dạy đệ tử của Ngài, đặc biệt là những Phật tử xuất gia, không được phép chặt cây, nhổ cỏ, không được đào đất… để thể hiện tình yêu thương, lòng từ bi của một người đệ tử Phật ban trải đến thiên nhiên.
Khi không có tình thương với muôn loài, đương nhiên chúng ta sẽ phá hoại tất cả môi trường xung quanh.
Đối với động vật, chúng ta không có tình thương, cho nên chúng ta thản nhiên ăn thịt chúng. Đôi khi chúng ta nói chúng ta thích cá, nhưng chúng ta vẫn ăn thịt cá.
Chúng ta nói rằng yêu chó, thích chim, nhưng vẫn sắm những cái chuồng, cái lồng để nhốt chó, nhốt chim.
Đó là cách loài người thể hiện tình yêu thương của mình đối với các động vật, nhưng hóa ra hành động ấy làm khổ các loài động vật bởi không cho chúng được tự do. Cái gọi là yêu thương đó mang sự ích kỷ bên trong.
Đối với môi trường xung quanh, chúng ta dám chặt phá cây chính bởi tâm chúng ta nhiều tham lam, bởi tâm chúng ta ô nhiễm nên không biết trân trọng, bảo vệ thiên nhiên. Khi thiên nhiên bị phá hủy thì ô nhiễm môi trường ngày càng tăng.
"Tai nạn, thiên tai, thảm họa… xảy ra. Chúng ta không hiểu nguyên nhân từ đâu. Tại sao lại có những thảm họa như vậy? Đó chính bởi tâm chúng ta căng thẳng.
Chính sự căng thẳng tâm lý khiến cho thân thể mệt mỏi, bệnh tật. Và khi bầu không khí môi trường ô nhiễm tác động đến các tế bào não, từ não tác động đến tâm lý làm chúng ta tức giận nhiều hơn, phiền muộn nhiều hơn, căng thẳng nhiều hơn… Đó là lý do vì sao chúng ta bị bệnh.
Như vậy, tôi nghĩ rằng sự ô nhiễm bên ngoài có liên hệ rất mật thiết với sự ô nhiễm bên trong. Và vì thế, việc giáo dục về môi trường ở các trường học, và không chỉ ở trường học mà ở tất cả các nơi, các cộng đồng… vô cùng quan trọng", Pháp vương nhấn mạnh.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa.
Phải làm gì đây?
Đức Pháp vương cũng bày tỏ, luôn suy nghĩ trăn trở "phải làm gì đây?" và ông luôn tìm được giải pháp, tìm được cách thức để tương tác với mọi người ở bất kỳ đất nước nào tới thăm, đặc biệt là ở Việt Nam.
Theo ông, Đức Phật Thích Ca đã dạy từng dạy "Hãy sống trân trọng tất cả mọi loài". Rõ ràng, Ngài không chỉ dạy "Hãy trân trọng mọi người" mà Ngài dạy "Hãy trân trọng tất cả mọi loài", tức là phải biết trân trọng cả các loài động vật, cả môi trường thiên nhiên.
Trân trọng có nghĩa là chúng ta học cách sống tràn đầy sự kính trọng và tình thương yêu. Nếu chúng ta không biết trân trọng thì cuộc sống của chúng ta không có hạnh phúc.
Hay chúng ta nói yêu vợ hoặc chồng mình, nhưng chưa chắc chúng ta đã trân trọng vợ hoặc chồng mình…
Như vậy, sự trân trọng cuộc sống, trân trọng môi trường và tất cả những gì mình đang có là điều vô cùng quan trọng.
"Hãy để cho mọi loài cùng được sống và có quyền được sống giống như chúng ta. Bởi vậy, tôi nghĩ rằng với tình thương yêu và trân trọng, chúng ta cần sống với nhau rất cởi mở, chân thành và thân thiện, đó chính là điều căn bản, là giải pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm", ông nêu rõ.
theo Trí Thức Trẻ

Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc

Buổi pháp thoại này có gì mà được nhiều trang mạng dành cho giới trẻ coi là bài giảng hay nhất của đại đức Thích Tâm Nguyên, "không nghe phí cả cuộc đời"? Mời quý vị cùng theo dõi!

Video tự động phát
Video tạm dừng
Đoạn mở đầu buổi pháp thoại của đại đức Thích Tâm Nguyên (nội dung này chúng tôi không trình bày lại bên dưới, bạn có thể xem nghe trực tiếp)
Bạn đang giàu có hơn 75% người trên thế giới!
Các bạn có biết hôm nay là ngày gì không ạ? Nhớ không ạ?
Hôm nay là một ngày vô cùng đặc biệt!
Tại vì nó không phải là ngày hôm qua, cũng không phải là ngày mai, và cũng không phải là một ngày nào nữa. Mà hôm nay là ngày hôm nay!
Cho nên ngày hôm nay là một ngày vô cùng đặc biệt, ngày mà chúng ta không bao giờ có lại trong tương lai, một ngày mà các bạn sẽ không thể sống lại. Và chúng ta vô cùng hạnh phúc vì có mặt trong ngày hôm nay!
Theo thống kê của Liên hiệp quốc, cứ mỗi 2 giây trên thế giới có một người chết. Nếu như sáng nay bạn thức dậy khỏe mạnh, thì bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế giới, vì họ sẽ không thể sống sót qua tuần sau. Và nếu bạn không phải trải qua đau khổ của chiến tranh, tù đày, hay đói khát, thì bạn đã hạnh phúc hơn 1 tỷ người trên thế giới này.
Nếu như bạn có quần áo để mặc, lương thực để ăn, ngôi nhà để sống, có những giây phút ngồi bình yên như vậy, thì bạn đã giàu có hơn 75% người trên thế giới. Cho nên hôm nay chúng ta không có nằm mơ đâu, chúng ta là những người vô cùng hạnh phúc.
Trong cuộc sống phức tạp, chúng ta không có nhận thức được, chúng ta truy đuổi chạy theo những thứ của cuộc đời một cách điên cuồng, mà không biết rằng mình đang có mặt trong những giây phút của ngày hôm nay, đó là những người sống ảo, vì họ không biết mình đang sống. 

Sống mà như đã chết! Chuyện về 4 bộ xương
Đến một lúc nào đó, chúng ta bắt đầu nhìn lại cuộc đời của mình, suy nghĩ về con đường mình sắp đi.
Chúng ta ra sức tiến về phía trước với những hoài bão, ước mơ. Và rất nhiều lần, chúng ta cảm thấy đã nỗ lực hết mình, vậy mà tại sao niềm vui thì không bao nhiêu mà nỗi buồn thì thật nhiều. Tại sao vậy? Tại vì con người sống trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay quá vội vàng.
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa / Vội vàng sum họp, vội chia xa / Vội ăn, vội nói, rồi vội thở / Vội hưởng thụ mau để vội già / Vội sinh, vội tử, vội một đời / Vội cười, vội khóc, vội buông lơi / Vội thương, vội ghét, nhìn nhau lạ / Vội vã tìm nhau, vội vã rời / Vội bao nhiêu kiếp, rồi vẫn vội / Đuổi theo hạnh phúc cuối trời xa / Ngoài sân đâu thấy hoa hồng nở...
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 3.
Đuổi theo hạnh phúc cuối trời xa, ngoài sân đâu thấy hoa hồng nở, chúng ta không sống trong những phút giây này, chúng ta cứ chạy theo những ảo ảnh mà không biết mình đang sống.
Cuộc sống không phải một đường đua. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng học tập cách sống chậm lại, để cảm nhận những chặng đường mình đi qua, những con đường của mình sắp tới.
Chúng ta đừng cố gắng đốt cháy mọi giai đoạn cuộc đời mình. Tại vì sao? Tại vì đáng lẽ trong mỗi giai đoạn đó, chúng ta có thể cảm nhận hạnh phúc, niềm vui, nhưng chúng ta dường như đã bỏ đi một nửa niềm vui của mình, và chạy theo những thứ ảo ảnh.
Ngày hôm nay, các bạn ngồi đây, các bạn có biết rằng các bạn đang làm gì không? Nãy giờ có ai biết mình đang thở không? Có ai biết rằng có những người khác tồn tại xung quanh mình không?
Nếu như các bạn không ý thức được các bạn đang thở, đang có mặt trong giây phút này, thì chúng ta được xem như là những người đã chết.
Có một bộ xương bước ra khỏi nghĩa địa đi lang thang và gặp một bộ xương khác. Bộ xương này mới hỏi: "Này anh, anh chết vì cái gì?", bộ xương kia nói: "Tôi chết vì nạn đói năm Ất Dậu". Rồi hai bộ xương cùng đi tiếp trên con đường thì gặp bộ xương thứ ba và hỏi: "Này anh anh chết vì cái gì vậy?". Bộ xương thứ ba mới trả lời: "Tôi chết vì tai nạn giao thông".
Tiếp tục hành trình, ba bộ xương đi trên con đường và gặp bộ xương thứ tư, hỏi: "Này anh, anh chết vì cái gì mà sao trông bộ dạng tả tơi như vậy?". Bộ xương thứ tư vô cùng cáu gắt và bực mình: "Các anh nói sao vậy, tôi đang sống sờ sờ đây, mà anh nói chết à?". Ba bộ xương kia vô cùng bất ngờ hỏi rằng: "Vậy anh làm nghề gì?". Bộ xương thứ tư trả lời: "Tôi là một game thủ".
Đó là những người đã sống mà như chết.
Ở trong thời đại của chúng ta, chúng ta lên mạng, lang thang từ trang này sang trang khác như một cô hồn đói. Thực ra chúng ta không đói cơm, đói áo, đói ăn, đói mặc, mà chúng ta đang đi tìm kiếm một cái gì đó. Thật ngạc nhiên, trong cuộc sống ngày hôm nay, có nhiều người không chết vì đói, vì lạnh, vì rét, mà chết vì thiếu một lẽ sống, thiếu tình thương. 
Ngày nay chúng ta chết vì những thứ vô cùng nhạt nhẽo. Và nếu như cuộc sống của chúng ta chỉ luôn chạy theo những giá trị ảo ảnh như vậy, chúng ta vội vàng chạy đua với thời gian mà không biết mình là ai, thì chúng ta là những kẻ đáng thương nhất. 
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 4.
Bi kịch khác của nhân loại ngày nay: Sống quá chần chừ
Có một điều đáng thương của nhân loại ngày nay nữa, đó là thái độ sống chần chừ. Có người thì vô cùng vội vàng, có người thì chần chừ không chịu làm việc mình đã dự tính. Rất lâu rồi, thầy nhận được email một bạn chia sẻ một câu chuyện, như sau:
Đây không phải một gói đồ bình thường, đây là một chiếc áo thật đẹp. Anh vất lớp giấy bọc, và lấy ra chiếc áo và nói:
- Tôi mua chiếc áo này tặng cô ấy vào lần đầu tiên chúng tôi sang New York cách đây 8-9 năm, nhưng cô ấy chưa bao giờ mặc, cô ấy muốn dành cho một dịp đặc biệt. Vậy thì hôm nay tôi nghĩ là dịp đặc biệt nhất rồi!
Anh ấy đến bên giường và đặt chiếc áo ấy cạnh những món đồ mà lát nữa đây sẽ được bỏ vào quan tài. Vợ anh vừa mới qua đời. Anh quay sang tôi vào bảo:
- Đừng bao giờ giữ lại một cái gì để chờ dịp đặc biệt. Mỗi ngày chúng ta sống là một dịp đặc biệt rồi. Sống là không chờ đợi, vì dù có nhiều việc vẫn phải chờ đợi rồi, thì cuộc sống không phải lúc nào cũng chờ chúng ta.
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 5.
Chúng ta ngày nay phần lớn là thích chuẩn bị sống, chứ không chịu sống trong từng phút giây.
Chúng ta chuẩn bị để xây một ngôi nhà, mua một chiếc xe đẹp, chuẩn bị tốt nghiệp một khóa học, và nghĩ rằng chừng nào chúng ta làm xong ngôi nhà, mua xe, mua điện thoại, tốt nghiệp việc học, thì chúng ta mới có được hạnh phúc. Và cứ thế từ việc này đến việc khác, chúng ta luôn chuẩn bị.
Rồi chúng ta quên rằng phải sống trong từng phút giây. Cho nên các bạn đừng chuẩn bị sống, hãy sống trong từng phút giây. 
Tại vì sao? Hôm nay thời tiết người ta có thể dự báo ngày mai mưa nắng, nhưng hôm nay chúng ta có thể dự báo rằng ngày mai người nào trong số chúng ta sẽ ra đi không? Chúng ta có bao nhiêu thời gian để chuẩn bị, mà chúng ta không có lường trước được rằng ngày mai sẽ như thế nào.
Hãy luôn nhớ rằng ngày hôm nay là ngày vô cùng đặc biệt, vô cùng hạnh phúc vì chúng ta còn có mặt trên cuộc đời này.
Cái gì cũng lướt, cái gì cũng chạm, bỏ lỡ hạnh phúc
Nhà thơ Bùi Minh Quốc có một bài thơ rất hay: 
Có khi nào trên đường đời tấp nậpTa vô tình đã đi lướt qua nhauBước lơ đãng chẳng ngờ đang để mấtMột tâm hồn ta đợi đã từ lâu.
Cuộc sống bây giờ của chúng ta, cái gì cũng lướt, cũng chạm. Nhưng cũng vì chúng ta lướt qua nhanh quá, mà chúng ta bỏ lỡ những hạnh phúc. Nhà thơ Bùi Giáng thì nói rằng:
Đôi khi lỡ hẹn một giờLần sau muốn gặp phải chờ trăm năm
Các bạn có thấy anh chàng cô nàng trong câu chuyện vừa rồi, chần chừ một lần lỡ hẹn, không chỉ phải chờ trăm năm đâu, có khi phải chờ ngàn năm hoặc chờ đến muôn kiếp sau.
Có nhiều người yêu nhau và nói rằng: "Em và anh kiếp sau chúng ta sẽ lại cùng yêu nhau nữa, sẽ làm vợ chồng, sẽ sống bên nhau". Nhưng các bạn có biết câu chuyện kiếp sau không?
Kiếp sau các bạn có thể gặp lại được, nhưng có thể, kiếp sau bạn là một con gà, người yêu bạn là một con vịt, và dù cả hai bạn ở chung một chuồng, nhưng dường như chúng ta chẳng hiểu gì nhau cả.
Cho nên đừng đợi kiếp sau, đừng đợi ngày mai. Và nếu như có một dự định nào hãy làm ngay luôn bây giờ.
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 6.
Có người phát biểu rằng: "Thưa thầy, nếu Facebook là trường học, thì em sẽ là một học sinh xuất sắc". Ước gì điều đó xảy ra, chúng ta không cần đi học, suốt ngày cứ đăng hình lên và tự nhiên trở thành một "học sinh xuất sắc"!
Facebook là một công cụ tuyệt vời, chúng ta không phủ nhận những giá trị mà nó mang lại cho cuộc sống cộng đồng, cho những gì mà chúng ta cần phải kết nối trong xã hội hôm nay. Tuy nhiên không phải như vậy mà chúng ta quên đi mặt trái của nó.
Chúng ta trở thành người sống vô cùng "điều độ", ngày ăn ba bữa, tắm rửa đúng giờ, và thức dậy trong bốn bức tường! Đó là mối nguy hại, nếu chúng ta không tỉnh táo, thì chúng ta đến cái cuộc sống "điều độ" như thế không còn xa.
Vì vậy, các bạn tham gia trên đó, cần luôn phải xác định mình làm gì, làm vì mục đích gì, hướng tới đâu, tránh những tai hại của nó.
Có người dành thời gian cuộc đời mình cho những câu chuyện như thế này: "Trong một thiên hà nhỏ có một hành tinh nhỏ, trong một hành tinh nhỏ có một đất nước nhỏ, trong một đất nước nhỏ có một quần đảo nhỏ, trong một quần đảo nhỏ có một ngôi nhà nhỏ, trong một ngôi nhà nhỏ có một cái tủ nhỏ, trong một cái tủ nhỏ có một cái hộp xinh xinh, trong cái hộp xinh xinh có quyển sổ xíu xíu, trong quyển sổ xíu xíu có dòng chữ bé tí teo: Bạn rất là rảnh khi đọc câu chuyện này"!
Có nhiều người lên mạng chẳng để làm gì cả, vô cùng rảnh rỗi đọc những câu chuyện như vậy.
Lười biếng mà cứ nghĩ sẽ có cuộc sống huy hoàng!
Có nhiều người lười biếng và luôn nghĩ rằng tương lai sẽ vô cùng huy hoàng. Ai đó nói một câu rất hay: "Tương lai khóc hay cười tùy thuộc vào độ lười của quá khứ". Hôm nay chúng ta lười học, lười lao động, lười tiếp xúc với mọi người mà cứ nghĩ mình sẽ có một tương lai huy hoàng, thì đó là một điều ảo tưởng. 
Có một bạn biết chơi đàn sơ sơ quen một bạn biết hát tàm tạm. Hai người đến với nhau. Một hôm họ tâm sự: "Anh ơi, anh biết đánh đàn, còn em biết ca hát, vậy tương lai của chúng ta thật là hạnh phúc rồi, phải không anh?".
Người kia trả lời: "Ừ đúng rồi, anh đánh đàn, em ca hát, thật lãng mạn".
Cô gái nói: "Nhưng em có một câu hỏi, anh đánh đàn, em ca hát, còn con chúng ta thì sao anh nhỉ?".
Anh kia trả lời: "Anh đánh đàn, em ca hát, còn con chúng ta sẽ cầm bát theo sau".
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 7.
Chúng ta chỉ "to khỏe" như những quả bong bóng!
Có một cặp vợ chồng nọ chơi game trên mạng rồi quen nhau, và kết hôn với nhau. Sau một lần chơi game trên mạng, nuôi gà, họ lái xe trở về nhà và thấy đứa con của mình đã chết.
Cảnh sát khi khám nghiệm tử thi, phát hiện ra rằng cặp vợ chồng này chỉ cho đứa bé ăn bột vào buổi trưa, còn thời gian còn lại họ vất đó đi chơi. Rất nhiều người đã chết vì game! 
Một câu chuyện khác: Có một anh bị thất tình đi ra cầu tự tử. Anh ôm theo một tấm hình của người yêu, và cứ chốc chốc lại nhìn vào tấm hình một cách thẫn thờ và rầu rĩ, cứ đứng như vậy hoài than vắn thở dài, chẳng còn muốn sống nữa.
Bên cạnh anh đó, xa xa có một phóng viên cũng rất nóng lòng đi lui đi tới, mà đã 2 tiếng đồng hồ anh này không nhảy. Anh chàng phóng viên bực mình quá, tới gần nói: "Này chú em, nếu mà chú không nhảy, thì không lọt vào danh sách hot của buổi chiều báo hôm nay đâu"!
Xã hội bây giờ có những người có thể lấy cái chết của người khác ra làm lợi cho mình, lấy nỗi đau của người khác làm mình vui.
Một người sắp chết đi đám tang, chụp hình lên mạng cũng like. Chúng ta trở thành những người sống với những cảm xúc rất hỗn độn. Chúng ta mong chờ sự thừa nhận của người khác bằng cách đưa những hình ảnh, tin tức, tâm trạng lên. Chúng ta mong họ thừa nhận mình giống như những em bé mong người lớn tặng những viên kẹo.
Và chúng ta mong chờ người khác thích mình! Giá trị của chúng ta không nằm trong những cái like, like hoàn toàn vô nghĩa. Vì nó không thể biến thành tiền bạc để nuôi sống người khác. Nó không thể biến thành vacxin để cứu sống những trẻ em bệnh tật. Nó không thể trở thành mái ấm cho những người già cô đơn.
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 8.
Chúng ta ở đây đã chơi trò thổi bong bóng chưa? Nếu chúng ta thổi càng lớn, thì nổ càng to. Cũng vậy, nếu chúng ta được nhiều người quan tâm ảo giống như thổi bong bóng, khi có chuyện gì đó xảy ra, chúng ta sẽ suy sụp rất lớn.
Đừng có để mình vào cuộc chơi thổi những bong bóng trống rỗng. Chúng ta tưởng mình rất to, rất khỏe, nhưng thật sự đang đứng trước một nguy cơ nổ tung lúc nào không hay.
Đáng thương vì so sánh mình với người khác
Khi chúng ta so sánh mình với người khác chỉ làm hao mòn giá trị bản thân của mình, không làm tăng giá trị bản thân được.
Ví dụ khi bạn nói xấu người khác không làm bạn tốt hơn được. Người xưa nói ngậm máu phun người trước dơ miệng mình. Nên khi các bạn cố gắng so sánh hạ thấp người khác, chính lúc đó chúng ta đang hạ thấp mình, và không nhận diện giá trị bản thân mình.
Tại sao chúng ta phải là người khác chúng ta mới hạnh phúc? 
Tay phải tay trái tay nào mạnh hơn? Chúng ta có hai tay, tại sao tay phải mạnh hơn còn tay trái yếu hơn. Ngay trên cơ thể của mình cũng đã có sự khác biệt. Vậy cần gì chúng ta phải đi so sánh ở ngoài? Các bạn tìm kiếm một sự bình đẳng mà ngay chính bản thân đã có sự bất bình đẳng.
Nếu một người sống hạnh phúc, họ không phân biệt tay nào mạnh hay yếu, mà chỉ cần có đôi tay là hạnh phúc rồi.
Chúng ta có mặt ở đây với cơ thể khỏe mạnh và những người thân yêu của mình là đã hạnh phúc rồi.
Đâu cần so sánh với người khác!
Bài phát biểu lay động của đại đức Thích Tâm Nguyên: Giàu có, bi kịch, tình yêu, lười biếng và hạnh phúc - Ảnh 9.
Nội dung bài được rút từ buổi pháp thoại của đại đức Thích Tâm Nguyên tại chùa Hoằng Pháp, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM, tuy diễn ra cách đây 2 năm nhưng còn nguyên giá trị, thậm chí càng có ý nghĩa khi Facebook tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng trong mọi mặt đời sống - cả tích cực lẫn tiêu cực.
Đại đức Thích Tâm Nguyên tuy còn trẻ tuổi nhưng đã có nhiều năm tu học phật pháp, thường xuyên tham gia các buổi tọa đàm chia sẻ về tư tưởng và triết lý của Đức Phật, đặc biệt là trong các khóa tu mùa hè dành cho sinh viên.
Đại đức Thích Tâm Nguyên thường sử dụng nhiều ví dụ, cách nói, từ ngữ gần gũi với giới trẻ, vì vậy các bài học cuộc sống với ý nghĩa sâu sắc đã được thầy truyền tải với phong cách rất trẻ trung, hài hước, được đông đảo Phật tử trẻ tuổi yêu mến. Có nhiều trang mạng dành cho giới trẻ còn gọi một số bài giảng của thầy Thích Tâm Nguyên là "bất hủ", "không xem thì phí cả đời"...
theo Trí Thức Trẻ

Sách ảnh đầu tiên về chùa Việt ở hải ngoại

Nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường vừa công bố tập sách Tượng Phật Việt Nam. Đây được xem là sách ảnh giới thiệu hệ thống tượng Phật và điện Phật ở các ngôi chùa Việt Nam, chùa Việt ở hải ngoại đầu tiên và nhiều nhất.
Sach anh dau tien ve chua Viet o hai ngoai - Anh 1
Có lẽ không có nhiếp ảnh gia nào gắn bó với các chùa, tự viện… Phật giáo bền bỉ như nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường. Hơn 30 năm rong ruổi khắp các công trình kiến trúc Phật giáo trong nước lẫn các công trình Phật giáo của người Việt ở nước ngoài, điều này đã giúp ông có bộ sưu tập chùa, tự viện, tượng Phật, điện Phật… lớn nhất. Nhiều người thân thiết gọi ông là nhà “chùa học” bởi mỗi bức ảnh trong sách của nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường không chỉ là ảnh mà như một góc sử liệu quý về những ngôi chùa, điện Phật, tượng thờ…


Tượng Phật Việt Nam chứa hình ảnh tượng Phật của 350 ngôi chùa (281 chùa ở Việt Nam và 69 chùa ở hải ngoại (nhiều nhất là ở Mỹ). (Ảnh bìa tập sách)
Ngày 22-10, nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận hai kỷ lục: Bộ sách Chùa Việt Nam hải ngoại đầu tiên và có nhiều ngôn ngữ nhất (đồng sở hữu với tác giả Từ Hiếu Côn); Sách ảnh giới thiệu hệ thống tượng Phật và điện Phật ở các ngôi chùa cho tập sách Tượng Phật Việt Nam. Quyển sách giới thiệu hình ảnh điện Phật, chư Phật, chư vị đệ tử được tôn thờ tại 350 tự viện Phật giáo Việt Nam trong nước và các nước Ấn Độ, Nepal, Thái Lan, Canada, Pháp, Nga, Mỹ.
Sach anh dau tien ve chua Viet o hai ngoai - Anh 3
Thượng tọa Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Giáo dục tăng ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trao chứng nhận kỷ lục cho nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường. Ảnh: QT
Trước khi nhận hai kỷ lục này, ông từng là kỷ lục gia sở hữu ba kỷ lục Việt Nam các tác phẩm về chùa Việt Nam gồm: Sách điện tử (CD-Rom) đầu tiên về các ngôi chùa ở Việt Nam; Người chụp ảnh và lưu giữ ảnh nhiều ngôi chùa nhất; Sách điện tử (CD-Rom) có số lượng chùa và ảnh chùa nhiều nhất.
Tượng Phật Việt Nam là một công trình dày công nhất trong các tác phẩm mà ông từng xuất bản như Việt Nam Danh lam Cổ tự (Việt - Anh - Pháp - Hoa); Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam (Việt-Anh); 108 Danh lam Cổ tự Việt Nam(Việt - Anh - Pháp - Hoa); 500 Danh lam Việt Nam (Việt-Anh); CD-Rom Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam (Việt-Anh); CD Rom Chùa Việt Nam xưa và nay (Việt-Anh) cùng nhiều tác phẩm viết chung khác như bộ sách Chùa Việt Nam hải ngoại (Việt - Anh - Hoa - Nhật) viết chung với tác giả Từ Hiếu Côn…
Sach anh dau tien ve chua Viet o hai ngoai - Anh 4
Đại diện Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (Vietkings) trao kỷ lục thứ hai cho nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường. Ảnh: QT
Sách Tượng Phật Việt Nam do Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 2017, do tác giả và gia đình phát tâm ấn tống với số lượng 2.000 cuốn để cúng dường Tam Bảo và mang cơ hội cho những ai có nhân duyên Phật pháp được chiêm ngưỡng di sản Phật pháp, di sản văn hóa Việt qua các tôn tượng từ cổ xưa cho đến hiện đại, từ Việt Nam cho đến hải ngoại.
Nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường chia sẻ: “Với khoảng 1 triệu pho tượng được tôn thờ trong hơn 18.000 tự viện Phật giáo Việt Nam ở trong nước và hải ngoại thì việc chúng tôi giới thiệu các điện Phật và tượng thờ trong 350 ngôi chùa là một đóng góp rất nhỏ. Chúng tôi cũng thiếu chuyên môn để xác định đầy đủ niên đại, chất liệu và kỹ thuật tạo tượng. Qua tác phẩm này, chúng tôi rất mong nhận được những lời chỉ dạy quý báu, những ý kiến đóng góp chân tình của quý tự viện, của các nhà khoa học cùng quý độc giả để chúng tôi bổ sung, sửa chữa trong lần tái bản”.
Sách ảnh Tượng Phật Việt Nam của nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường không chỉ là bộ sưu tập ảnh lớn nhất về các tượng Phật tại Việt Nam qua các triều đại, mà còn là công trình khảo cứu công phu nhất từ trước đến giờ dưới hình thức hình ảnh các phong cách nghệ thuật về tượng Phật của Việt Nam, cổ cũng như kim, với nhiều chất liệu khác nhau.
... Xem tác phẩm này, các độc giả sẽ có sự thôi thúc nội tại muốn tự mình được chiêm bái tận nơi các tự viện tôn trí tượng chư Phật, Bồ tát… để thỏa mãn ước nguyện và lòng thành kính. (Hòa thượng Thích Trí Quảng)
TRANG DƯƠNG - Theo Baomoi